BẢN TIN CẬP NHẬT VỀ HIỆN TƯỢNG ENSO VÀ NHẬN ĐỊNH XU THẾ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TỪ THÁNG 12 NĂM 2019 ĐẾN THÁNG 5 NĂM 2020

BẢN TIN CẬP NHẬT VỀ HIỆN TƯỢNG ENSO VÀ NHẬN ĐỊNH XU THẾ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TỪ THÁNG 12 NĂM 2019 ĐẾN THÁNG 5 NĂM 2020


I. DIỄN BIẾN HIỆN TƯỢNG ENSO VÀ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TỪ THÁNG 10 ĐẾN NỬA ĐẦU THÁNG 11/2019
1. Khí tượng
1.1. Hiện tượng ENSO
Hiện tại, ENSO đang ở trạng thái trung tính với chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển khu vực NINO 3.4 ở mức +0,7oC trong tháng 10 và tăng 0,2oC so với tuần đầu tháng 10/2019.
1.2. Thời tiết nguy hiểm
Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ):
Từ tháng 10 đến nửa đầu tháng 11 có 02 cơn bão (bão số 5 và bão số 6) ảnh hưởng trực tiếp khu vực Nam Trung Bộ. Cụ thể diễn biến hai cơn bão như sau:
Bão số 5 (tên quốc tế Matmo): Từ ngày 28/10 vùng thấp hình thành và di chuyển vào Biển Đông mạnh lên thành ATNĐ. Sau đó chiều ngày 29/10ATNĐ đã mạnh lên thành bão số 5. Vào đêm 30/10, bão đã đổ bộ vào khu vực Bình Định đến Phú Yên. Do ảnh hưởng của bão số 5, ở An Nhơn (Bình Định) đã có gió mạnh cấp 9, giật cấp 11, Quy Nhơn (Bình Định) gió mạnh cấp 8, giật cấp 11; Hoài Nhơn (Bình Định) gió giật cấp 9; Lý Sơn (Quảng Ngãi) có gió giật mạnh cấp 9.
Bão số 6 (tên quốc tế Nakri):Tối ngày 04/11, vùng áp thấp trên khu vực giữa Biển Đông đã mạnh lên thành ATNĐ. Đến tối 5/11 ATNĐ đã mạnh lên thành bão số 6 có tên quốc tế là Nakri. Bão số 6 có quĩ đạo phức tạp. Đến sáng sớm ngày 11/11 bão đã đổ bộ vào các tỉnh Phú Yên đến Khánh Hòa. Do ảnh hưởng của bão số 6, ở các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Phú Yên đã có gió mạnh cấp 6-8, giật cấp 9.
1.3. Mưa lớn diện rộng:
Trêm phạm vi toàn quốc đã xuất hiện những đợt mưa đáng chú ý như sau:
Từ ngày 14-18/10, do ảnh hưởng của lưỡi áp cao lục địa kết hợp với đới gió Đông trên cao nên các tỉnh từ Thanh Hóa đến Phú Yên có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to; Từ ngày 19-20/10 mưa thu hẹp về diện và lượng chỉ còn tập trung tại các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Khánh Hòa. Mưa lớn tập trung nhiều nhất tại nam Nghệ An, Hà Tĩnh và từ Đà Nẵng đến Phú Yên, tổng lượng mưa phổ biến từ 250-450 mm, đặc biệt tại Vinh (Nghệ An): 990mm. Đáng lưu ý là tại Vinh vào ngày 16/10 đã xuất hiện lượng mưa ngày đạt 700mm vượt giá trị lịch sử là 597 mm ngày 11/10/1989.
Khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên từ ngày 24-31/10 do ảnh hưởng của không khí lạnh kết hợp nhiễu động gió Đông và hoạt động của cơn bão số 5 nên đã xảy ra một đợt mưa lớn trên diện rộng với tổng lượng mưacả đợt ở khu vực từ Thừa Thiên Huế đến Phú Yên từ 200-350mm. Tại Tây Nguyên cũng do ảnh hưởng của bão số 5 nên ngày 30-31/10 đã xảy ra mưa lớn với một số điểm có mưa trên 100mm/24h
Từ ngày 10-11/11 do ảnh hưởng của bão số 6 nên các tỉnh Thừa THiên Huế đến Ninh Thuận, Tây Nguyên và một số tỉnh thuộc Đông Nam Bộ đã xuất hiện mưa vừa, mưa to có nơi mưa rất to với tổng lượng mưa phổ biến 80-200mm có nơi thuộc  Đắc Lắc đạt xấp xỉ 300 mm.
Tổng lượng mưa (TLM) trong tháng 10/2019 tại các tỉnh Bắc Bộ phổ biến thấp hơn từ 15-40%, riêng một số nơi thuộc vùng núi phía bắc cao hơn từ 25-40% so với TBNN; tại khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ phổ biến thấp hơn TBNN từ 15-45%, riêng một số nơi thuộc Thanh Hóa và Nghệ An cao hơn TBNN, đặc biệt tại Vinh, TLM đạt 1165 mm cao gấp đôi so với TBNN.
Tổng lượng mưa 10 ngày đầu tháng 11/2019 phổ biến thấp hơn so với TBNN từ 20-50%, tại Bắc Bộ TLM phổ biến chỉ từ 10-25mm. Riêng tại nam Tây Nguyên và một số nơi thuộc Đông Nam Bộ do ảnh hưởng của bão số 6 TLM 80-150 mm, có nơi trên 200mm, cao hơn TBNN (TLM TBNN 30-60mm)
1.4. Nhiệt độ, không khí lạnh:
Không khí lạnh: 
Trong tháng 10 và nửa đầu tháng 11 đã xuất hiện 7 đợt không khí lạnh vào các ngày 14/10, 18/10, 24/10, 28/10, 3/11, 7/11, 13/11. Trong đó, đáng lưu ý nhất là đợt không khí lạnh tăng cường ngày 28/10, vịnh Bắc Bộ đã có gió Đông Bắc mạnh cấp 6 (12m/s), giật cấp 8 (18m/s), trời chuyển rét về đêm và sáng, riêngngày 01/11 trời rét cả ngày. Nhiệt độ thấp nhất phổ biến 16-17 độ, riêng một số nơi ở núi cao như Đồng Văn (Hà Giang), Trùng Khánh (Cao Bằng) nhiệt độ thấp dưới 10oC.
Nhiệt độ trung bình:
Nhiệt độ trung bình tháng 10/2019 tại các khu vực trên phạm vi toàn quốc phổ biến cao hơn từ 1,0-2,0oC so với TBNN cùng thời kỳ.
Trong 10 ngày đầu tháng 11/2019, nhiệt độ phổ biến xấp xỉ so với TBNN, riêng một số nơi thuộc Tây Bắc Bộ cao hơn TBNN khoảng 1oC.
2. Thủy văn
2.1. Khu vực Bắc Bộ:
Từ tháng 10 đến nửa đầu tháng 11, dòng chảy trên các sông suối khu vực phía Bắc, đặc biệt, dòng chảy đến các hồ chứa lớn trên lưu vực sông Hồng thiếu hụt so với TBNN từ 30-70%, thiếu hụt nhiều trên lưu vực sông Đà. Mực nước thấp nhất cùng kỳ trong chuỗi quan trắc xuất hiện liên tiếp ở hạ lưu sông Lô tại Tuyên Quang và Vụ Quang, hạ lưu sông Hồng tại Hà Nội.
Tình hình hồ chứa:
Hồ chứa thủy điện: Mực nước các hồ chứa thủy điện lớn như Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình thấp hơn rất nhiều so với năm 2018, thấp hơn mực nước dâng bình thường từ 5-16m, thấp nhất tại hồ Sơn La. So sánh với mực nước theo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên sông Hồng, mực nước hồ Hòa Bình đang thấp hơn khoảng 4m, hồ Thác Bà thấp hơn khoảng 1,5m.
Hồ chứa thủy lợi: Dung tích trung bình các hồ thủy lợi khu vực Bắc Bộ phổ biến đạt từ 50-100% dung tích thiết kế (DTTK); nhiều hồ thủy lợi khu vực Điện Biên và Sơn La có dung tích thấp hơn các khu vực khác.
2.2.Khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên
Khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên:
Từ ngày 30/10-01/11, trên các sông từ nam Quảng Bình đến Phú Yên và Kon Tum đã xuất hiện 1 đợt lũ với biên độ lũ lên ở thượng lưu các sông phổ biến từ 4,0-6,5m, hạ lưu từ 2,0-5,4m. Đỉnh lũ trên các sông phổ biến ở mức BĐ1–BĐ2, riêng sông Kiến Giang, sông Trà Khúc, sông Vệ (Quảng Ngãi) và thượng lưu sông ĐắkBla (KonTum) ở mức xấp xỉ BĐ3 và trên BĐ3.
Từ ngày 10-11/11, trên các sông từ Quảng Nam đến Khánh Hòa và khu vực Tây Nguyên đã xuất hiện 1 đợt lũ với biên độ lũ lên trên các sông phổ biến từ 2-4,5m. Đỉnh lũ trên các sông ở mức thấp, riêng sông Vệ (Quảng Ngãi), sông Kỳ Lộ (Phú Yên), sông Dinh Ninh Hòa (Khánh Hòa) ở trên mức BĐ2.
Tình hình hồ chứa 10 ngày đầu tháng 11:
Dung tích các hồ thủy lợi từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế đạt từ 53-95% dung tích thiết kế (DTTK); các hồ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận đạt từ 50-85% DTTK; các hồ ở khu vực Tây Nguyên đạt từ 88-98%.
Mực nước các hồ chứa thủy điện vừa và lớn ở khu vựcTây Nguyên thấp hơn mực nước dâng bình thường (MNDBT) từ 0,3-3,8m; ở Trung Bộ phổ biến thấp hơn MNDBT từ 9,5-14m, một số hồ thấp hơn nhiều như Bình Điền (thấp hơn) 21m), A Vương (thấp hơn 31m).
Khu vực Nam Bộ:
Lũ đầu nguồn sông Cửu Long đạt đỉnh vào nửa cuối tháng 9, đỉnh lũ trên sông Tiền tại Tân Châu là 3,63m trên BĐ1 0,13m (ngày 17/9) thấp hơn TBNN 0,4m, trên sông Hậu tại Châu Đốc là 3,16m trên BĐ1 0,16m (ngày 28/9), thấp hơn TBNN 0,45m, sau xuống nhanh. Ở hạ nguồn sông Cửu Long, sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng của một kỳ triều cường mạnh vào những ngày cuối tháng 9, mực nước tại trạm Mỹ Thuận, Mỹ Tho (sông Tiền), Cần Thơ (sông Hậu), Phú An (sông Sài Gòn) đã vượt mức lịch sử từ 0,02-0,06m.
Trong 10 ngày đầu tháng 11, mực nước sông Mê Công xuống dần, lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công (tại trạm Kratie-Camphuchia) về đầu nguồn sông Cửu Long ở mức thấp hơn TBNN cùng kỳ khoảng 62% và thấp hơn cùng kỳ năm 2015 khoảng 35%; mực nước đầu nguồn sông Cửu Long ở mức thấp hơn TBNN từ 0,9-1,2m.
3. Hải văn
Trong giai đoạn từ đầu tháng 10 đến nửa đầu tháng 11, sóng lớn xuất hiện chủ yếu trong bão số 5 và số 6. Bão số 5 với cường độ cấp 10 khi cập ven bờ biển Bình Định-Phú Yên đã gây những đợt sóng cao 5-6m, phá hủy nhiều tuyến đê, kè, khu nuôi trồng thủy hải sản tại 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên. Nước dâng do bão số 5 ghi nhận tại trạm hải văn Quy Nhơn là 0,4m.Tuy nhiên, do bão đổ bộ vào thời điểm thủy triều thấp nên không gây ngập, úng vùng ven bờ khu vực bão ảnh hưởng. Bão số 6 gây độ cao sóng kỷ lục tại ngoài khơi giữa biển Đông (8-9m); tuy nhiên, cường độ bão khi cập bờ yếu hơn bão số 5 và đổ bộ vào thời kỳ thủy triều thấp nên không gây nhiều thiệt hại vùng ven biển như bão số 5, độ cao sóng trong bão số 6 phổ biến 3-5m. Ngoài ra, tại ven biển Nam Bộ, vào cuối tháng 10 xuất hiện đợt triều cường cao, tuy nhiên thấp hơn so với đợt triều cường kỷ lục vào cuối tháng 9 đầu tháng 10.
II. DỰ BÁO KHÍ TƯỢNG, THỦY VĂN, HẢI VĂN (từ tháng 12/2019 đến tháng 5/2020)
1. Hiện tượng ENSO
Dự báo khả năng trạng thái ENSO sẽ duy trì ở pha trung tính nhưng vẫn nghiêng về pha nóng trong các tháng cuối năm 2019 đến những tháng đầu năm 2020.
2. Bão/ATNĐ và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm
Từ nay đến cuối năm 2019 còn khoảng 2-3 xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực Biển Đông và có thể ảnh hưởng đến khu vực đất liền. Thời tiết chuyển mùa, tiếp tục đề phòng nguy cơ xuất hiện các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông, sét, lốc, mưa đá trên phạm vi toàn quốc.
3. Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình trên phạm vi cả nước có khả năng cao hơn so với TBNN cùng thời kỳ từ 0,5-1,5oC độ; riêng tháng 12/2019, khu vực Bắc Bộ và Bắc và Trung Trung Bộ cao hơn từ 1,0-2,0oC.
Dự báo đợt rét đậm đầu tiên có khả năng xuất hiện vào khoảng đầu tháng 01/2020. Rét đậm tập trung nhiều trong tháng 01 và 02/2020. Đề phòng các đợt rét kéo dài 5-10 ngày trong thời gian này và có khả năng gây băng giá, sương muối đặc biệt khu vực vùng núi phía Bắc.
4. Lượng mưa
4.1. Khu vực Bắc Bộ
Tổng lượng mưa (TLM) tháng 12/2019 phổ biến thấp hơn TBNN; từ tháng 01 đến tháng 02/2020, TLM phổ biến khoảng 30-60mm, ở mức cao hơn so với TBNN. Trong những tháng mùa đông có thể xuất hiện những đợt mưa rào và dông. Từ tháng 03 đến tháng 5/2020, TLM tại khu vực phổ biến xấp xỉ so với TBNN.
4.2.Khu vực Trung Bộ
Khu vực Bắc Trung Bộ,TLM phổ biến xấp xỉ so với TBNN; riêng tháng 01/2020, TLM cao hơn 10-25% so với TBNN. Khu vực Trung Trung Bộ phổ biến xấp xỉ so với TBNN. Khu vực Nam Trung Bộ phổ biến xấp xỉ so với TBNN; riêng tháng 12/2019 thấp hơn từ 10-30%,
4.3.Khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ
Vào tháng 12/2019, TLM phổ biến 10-40 mm. Tháng 01 và tháng 02/2020phổ biến ít mưa. Tháng 03/2020 phổ biến thấp hơn từ 10-20%. Tháng 4 đến tháng 5/2020 phổ biến xấp xỉ so với TBNN.
5. Thủy văn
5.1. Bắc Bộ
Từ tháng 12/2019-5/2020, nguồn nước trên các sông suối khu vực khu vực Bắc Bộ tiếp tục thiếu hụt so với TBNN, thiếu hụt nhiều vào các tháng 12/2019 và tháng 1/2020, cụ thể như: lưu vực sông Đà thiếu hụt từ 20-60%; Lưu vực sông Thao thiếu hụt từ 20-50%; lưu vực sông Lô- Gâm- Chảy đến hồ chứa Thác Bà và Tuyên Quang thiếu hụt từ 10-30%; hạ lưu sông Lô thiếu hụt từ 30-80%;hạ lưu sông Hồng hạ thiếu hụt từ 20-30%, riêng tháng 1-2 xấp xỉ trên TBNN do các hồ thủy điện cấp nước tăng cường phục vụ đổ ải vụ Đông-Xuân.
Mực nước thấp nhất tại trạm Hà Nội trên sông Hồng có khả năng ở mức 0,2-0,3m, xuất hiện vào cuối tháng 2 hoặc tháng 3 năm 2020. Mùa khô năm 2020, tình hình thiếu nước, khô hạn có khả năng xảy ra tại một số tỉnh khu vực Tây Bắc và Đông Bắc.
5.2.Khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên         
Từ nay đến tháng 12/2019, trên các sôngtừ Hà Tĩnh đến Bình Thuận và khu vực Tây Nguyên có khả năng xuất hiện 1-2 đợt lũ vừa và dao động.
Đỉnh lũ năm 2019 trên các sông từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị, Quảng Ngãi và khu vực Tây Nguyên ở mức BĐ2-BĐ3, tương đương TBNN; các sông ở Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định đến Bình Thuận ở mức BĐ1-BĐ2, có nơi trên BĐ2, thấp hơn TBNN.
Từ tháng 01 đến tháng 5/2020, mực nước trên các sông xuống dần. Trên một số sông khả năng xuất hiện mực nước thấp nhất trong chuỗi số liệu quan trắc cùng kỳ. Lượng dòng trên các sông giảm dần và phổ biến ở mức thiếu hụt so với TBNN cùng kỳ từ 20-60%, riêng các sông ở Quảng Ngãi và khu vực Tây Nguyên ở mức xấp xỉ với TBNN cùng kỳ.
5.3.Khu vực Nam Bộ:
Từ nay đến tháng 5/2020, tổng lượng dòng chảy trên các trạm thượng nguồn sông Mê Công về khu vực đồng bằng sông Cửu Long ở mức thiếu hụt so với TBNN. Mực nước sông Cửu Long biến đổi chậm và thấp hơn so với TBNN từ 0,2-0,4m.
Trong mùa khô 2019-2020, khả năng xâm nhập mặn sẽ xuất hiện sớm hơn và sâu hơn mùa khô năm 2018-2019 và TBNN. Các tỉnh ở đồng bằng Nam Bộ cần xây dựng các kế hoạch, kịch bản phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn để chủ động ứng phó với diễn biến thực tế trong thời gian tới.
 
6. Hải văn
Sóng lớn sẽ xuất hiện trong các đợt gió mùa Đông Bắc mạnh, kéo dài và lấn sâu xuông phía Nam với độ cao sóng vùng ven bờ có thể cao 2-3m, ngoài khơi 4-5m. Ven biển Trung Bộ sẽ xuất hiện các đợt triều cường cao vào các ngày 9-13/11 và 13-16/12/2019, ngày 10-13/01/2020. Tại ven biển Nam Bộ, nhiều đợt triều cường cao với mực nước tại trạm Vũng Tầu vượt 4,0m xuất hiện vào các ngày cuối của tháng 11 và 12/2019, các ngày từ 9-12/01/2020. Hiện tượng sạt lở bờ biển tiếp tục diễn biến phức tạp nhất là trong các đợt triều cường kết hợp với gió mùa mạnh.
Bản tin dự báo khí tượng thủy văn thời hạn mùa tiếp theo được phát hành vào ngày 15 tháng 12 năm 2019.

Chi tiết tin